Ngày 27.10 năm ngoái là ngày đầu tiên chúng tôi làm chương trình Sân khấu vô hình theo phương thức acting lab. Khoảng giữa tháng 9, tôi thấy hình như mấy cậu em đạo diễn ở Xí Nghiệp hơi bị rảnh quá thì phải, chả thấy sáng tác thực hành gì, còn nhóm diễn viên khóa 1 đã hết mà mà khóa 2 thì chưa học, thế là tôi mới hỏi mấy đứa có thử nghịch không?
Thật ra ban đầu là do tôi bí chương trình. Kiểu, làm xong SKVH 1 là Forum Theatre, SKVH 2 thì đã thử nghiệm 1 vở kịch trong kịch rồi. Với cũng bắt đầu ngồi viết “Tại sao chúng ta lại ở đây?”. Làm một mình nữa thì nặng. Rồi một chuyện nữa là tôi thấy nếu đạo diễn và diễn viên không thực hành thường xuyên với nhau thì gãy. Mỗi năm chỉ làm một phim ngắn thì kỹ năng mòn hết cả. Thế là câu hỏi không còn là có làm hay không nữa rồi. Câu hỏi là làm như thế nào. Và mô hình acting lab ra đời.
Tôi định rủ hai đạo diễn nam, hai đạo diễn nữ, để không khí đa dạng về mặt tự sự. Chuyện này đã kể rồi. Tất nhiên là không rủ được đạo diễn nữ nào. Hồi đấy Thanh Phương chưa làm đạo diễn. Số lương đạo diễn nữ ở HN đếm trên đầu ngón tay, và cơ bản họ xa lạ với hình thức sân khấu (thật ra tôi cũng chưa làm nhiều, chủ yếu là máu liều cao). Đây là một điều tương đối đáng buồn. Sau này chỉ có đúng 1 số SKVH có đạo diễn nữ, là số thứ 5 với vở Sự tích người hóa chó. Chuyện sẽ kể ở một bài khác.
Ở số thứ 3, tôi đưa ra một hình thức tương đối rõ ràng và được duy trì đến hết số thứ 5. Đó là diễn viên toàn quyền lựa chọn đạo diễn và kịch bản. Tôi bảo các đạo diễn thử rủ các diễn viên họ quen xem có ai muốn tham gia một thử nghiệm như thế không. Kết quả là Tùng không rủ được ai, Thành rủ được 2 người tính cả Thu Giang em gái ruột, Lân rủ được 2 người còn tôi thì có 4 diễn viên của Xí Nghiệp. Sân khấu có một sự thân mật lớn hơn nhiều so với những phim ngắn chúng tôi làm: không cần phải đi phục vụ một cái máy quay, một “cái nhìn”. Rủ người thân bạn bè đến chơi cùng rồi diễn 1 đêm thì sẽ bớt áp lực hơn là rủ đến quay một cái phim mấy ngày trời.
Tùng chuyển thể một đoạn ngắn trong tiểu thuyết đang hot lúc đó (”Miễn trừ trách nhiệm”, được chuyển thể thành series cùng tên). Thành viết một kịch bản dựa trên mối tình cũ. Lân đạo diễn một kịch bản của Trường về một chàng trai băn khoăn về tình yêu và tình dục. Tôi thì lấy một kịch bản hiện thực và biến nó thành epic theatre với kỹ thuật của Brecht. Thằng Lân hốt hoảng - sao các anh em chơi quả này ác liệt thế? So với những vở khác, Lân thấy tự ti - nó luôn tự ti như vậy từ hồi làm phim vì nghĩ phim mình không đủ hay, và đặc biệt là còn trong một không gian mà 3 người còn lại là 3 ông anh.
Tùng và Thành tự viết kịch bản, nói chung cũng đáng lo. Dù gặp nhau sớm, thời gian sản xuất thực tế từ lúc bắt đầu làm là 2 tuần. Là đầu tuần trước bắt đầu rồi cuối tuần sau diễn luôn. Lần đầu làm chương trình đông người nó bối rối vậy đấy. Tôi yên tâm hơn về Tùng, vì Tùng luôn là người đúng giờ giấc, không phải như tôi, một thằng tưng tửng về thời gian. Trong buổi gặp nhau đầu tiên để chuẩn bị chương trình, Tùng đã làm gần xong kịch bản. Tôi hỏi “kịp không bạn?” và Tùng bảo “yên tâm”. Và tôi chẳng cần phải lo gì thêm về nhóm Tùng. Thử nghiệm của Tùng dựa nhiều vào thời gian: cậu bắt khán giả ngồi 15 phút nhìn Thảo ngồi trên cái ghế tựa. Tôi không chắc chắn lắm về sự hiệu quả, vì phần follow up sau khi khán giả chờ không đi được hết những cái nó cần nói. Cũng vì thời gian sản xuất không cho phép một câu chuyện dài hơn. Nhưng một thử nghiệm như vậy là cần thiết với nghệ sĩ để họ có thể nhận phản hồi của khán giả.
Thành cũng “anh yên tâm” với tôi, nhưng chật vật hơn. Thành vừa làm vừa sửa kịch bản. Thành trình bày idea tôi chẳng hiểu gì cả, nhưng đã leo lên lưng hổ rồi thì khó xuống. Chúng tôi cứ mặc kệ Thành làm. Bốn nhóm hoạt động độc lập, thỉnh thoảng tôi lượn qua xem họ làm đến đâu và cần gì cho đúng vai trò của một người sản xuất chương trình. Cũng vốn định để số lượng diễn viên nam nữ cân bằng cho các nhóm dễ làm việc, nhưng thực tế là đông diễn viên nữ hơn, nên cuối cùng vở diễn của Thành và Tùng có hai nữ. Thành xoay sở được vì không cần phải nhất thiết là một nam một nữ. Còn kịch bản của Tùng là hai vợ chồng, cuối cùng cô em Gia Linh chưa đầy 18t của chúng tôi phải đóng vai người chồng. Đó cũng là một trong những yếu tố khiến vở của Tùng yếu hơn phần còn lại. Linh sau này than thở, em chưa bao giờ được đóng đúng tuổi, hết đóng vai người đàn ông bị phản bộ rồi lại đóng vai người mẹ có con về muộn. Vai đúng tuổi duy nhất của Linh là trong Tại sao chúng ta lại ở đây.
Diễn xuất trong “một cuộc phỏng vấn” của Thành cũng không phải quá thử nghiệm, nhưng Thành làm ra một dạng “sân khấu tương tác” cho phép khán giả tác động đến diễn viên. Họ có thể cảm thấy sức nặng của tác động ấy. Nó là một điều quan trọng trong sân khấu mà điện ảnh không làm được bằng. Chúng tôi vẫn trao đổi với nhau nhiều về phần này của Thành, vì vở này được diễn trong 2 số SKVH khác nhau, và mỗi lần diễn đều nhận được đóng góp và phản hồi của khán giả về hình thức “sân khấu tương tác” này.
Về phần của tôi và hai em trong “Thần tượng”, xin để các bạn tự đánh giá mức độ hiệu quả của epic theatre. Tự nói về bản thân thì hơi chướng.
Lân cũng bối rối trong việc chỉ đạo diễn viên và làm việc với kịch bản của người khác. Đến lúc tổng duyệt, Lân vẫn thở dài. Tôi bảo, em vào đóng đi, em vào làm cái thằng dẫn truyện này đi. “Thôi em không làm được đâu”. “Anh bắt em lấy oscar à? Em không vào diễn là hỏng dàn dựng”. Thế là nó lên đóng, và tất nhiên là đóng tròn trịa. Đấy là 2 tiếng trước giờ diễn. Sân khấu đòi hỏi người ta phải ứng biến theo tình huống thực tiễn nhiều, một trải nghiệm thực sự cần thiết cho các đạo diễn ít tiền mà thích đòi hỏi rõ lắm như các em tôi. Người ta hay gọi là chạm cỏ ấy. Thiếu vị trí thì tự giác trám vào với nhau thôi, chứ như đi quay phim là kiểu gì bọn nó cũng đòi làm thêm một cái gì đó rất to để sửa. Rồi lợn lành lại thành lợn què. Kinh phí thì thêm 20 30% mà phim thì vẫn dở nguyên. Rồi để lại những “vết sẹo tài chính” và chẳng còn hơi sức đâu nhìn lại xem mình đã thực sự làm đúng làm sai ở đâu trong tác phẩm này.
Sân khấu trả cho người ta kết quả ngay tức khắc khi thực hành. Đây là một đặc thù rất quan trọng trên phương diện tác động của nó tới người thực hành. Người ta thực hành và biết mình đang làm tốt hơn hay tệ hơn, và từ đó điều chỉnh. Nó khiến người ta có động lực phấn đấu hơn. Khi không tập đủ, họ vấp váp trên sân khấu, quên thoại, chệch nhịp - khi tập đủ, họ hoàn toàn biết mình đang làm gì và đi vào một trạng thái tự tin rất lớn. Bạn nhìn những người khác để làm, để hoàn thiện phần việc của mình - dù bạn là diễn viên, đạo diễn, kỹ thuật sân khấu hay thiết kế bối cảnh. Bạn nhận ra mình chưa đủ chăm chỉ, chưa đủ thấu hiểu, chưa đủ dũng cảm. Bạn muốn mình có thể làm nhiều hơn, không chỉ một lần, mà tất cả mọi lần, sau khi diẽn xong.
Như Mamet nói, sân khấu là nơi ta thừa nhận sự bất lực và nhỏ bé của mình. Để ta sống tiếp hoàn thiện hơn.
Đã có 30 người đến xem chúng tôi, chủ yếu là bạn bè và gia đình. Đó cũng là đặc thù của sân khấu: nó bắt đầu từ gia đình, bạn bè, cộng đồng chung. Người ta xem nhau và chia sẻ không gian thấm đầy cảm xúc. Rồi sau đó vở kịch trở thành một sản phẩm thương mại hay không thì là một chuyện khác.
Nếu phải nói một cách sòng phẳng, thì chắc chắn rằng cái gọi là “phòng thí nghiệm diễn xuất” không hề đi đến nơi mà nó cần đến. Với tư cách một người hướng dẫn diễn xuất, thì tôi phải thành thật rằng nếu chỉ học thuộc thoại, tìm kiếm các sắc thái có thể nói nó một cách “phù hợp” theo cái lối hiện thực mà đa phần chúng ta quen thuộc, thì chưa thể gọi là diễn xuất. Đấy chỉ là diễn dạt một trạng thái cảm xúc mà thôi, chứ chưa đủ tính chất trình diễn. Một nửa màn trình diễn trong sân khấu vô hình đều ở dạng diễn hiện thực này, đấy là làm cho người ta tin và đồng cảm. Diễn xuất và nghệ thuật điện ảnh, nghệ thuật sân khấu không cần đi đến cái chỗ phải mô phỏng hiện thực, để phải “giống thật”, phải “đời” như nhiều người nghĩ. Nhưng nó đã vô tình tạo ra một sân chơi cho phép những thử nghiệm của đạo diễn về tương tác với khán giả.
Tháng trước, khi ngồi làm thumbnail cho video tư liệu trên youtube của vở Hùm beo chó lợn (SKVH 04), tôi đã zoom vào trong ảnh để căn chỉnh phần thiết kế. Tôi nhìn vào cái khẩu súng đạo cụ đã được sơn đen và nhớ ra kỷ niệm Đức sang nhà tôi, cầm theo khẩu súng đạo cụ mới mua từ shopee. Tôi bảo, thế là dùng súng nhựa màu đỏ trắng thế này à? Anh yên tâm, em sơn đây. Anh em chúng tôi đứng nói chuyện với nhau chờ sơn khô. Đó là buổi chiều trước buổi tổng duyệt. Thằng Đức trông trẻ con và ngây thơ, nhưng nó đã dí được hai diễn viên mới chỉ tập diễn chưa đầy một năm là Phúc và Tuệ Minh diễn trọn vẹn 16 trang kịch bản. Tôi nhớ các buổi tập và buổi duyệt, khi thì ở phòng tập, khi thì ở nhà diễn viên, khi thì ở ngoài đường (chúng tôi từng bị chửi khi tập kịch ở sân chơi công cộng, cũng thật là một trải nghiệm buồn cười). Tôi cũng quên mất đã nói gì. Đa phần các câu chuyện rồi sẽ là thế. Chúng ta quên mất mình đã nói gì với nhau, nhưng rất nhớ những cảm giác và những hình ảnh.
Anh tôi, một nhà báo, nói rằng anh em làm báo có một cảm giác vị kỷ về việc “có tờ báo mà làm” mà các anh em ngành khác không chia sẻ được. Tôi thì nghĩ đại để rằng anh em làm nghệ thuật sân khấu cũng thế thôi, kiểu, “có cái nhà hát mà làm”. Chúng tôi tất nhiên không có nhà hát, nhưng có chương trình Sân khấu vô hình.



